Hai cú sốc dầu mỏ làm rung chuyển kinh tế toàn cầu thập niên 1970

2 nhiều giờ trước kia 4
ARTICLE AD BOX

Thế giới từng trải qua hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ trong vòng chưa đến 10 năm, làm rung chuyển kinh tế toàn cầu.

Cuộc chiến giữa Mỹ, Israel và Iran đang đẩy thị trường năng lượng toàn cầu vào trạng thái căng thẳng chưa từng thấy, khi tuyến vận tải eo biển Hormuz, nơi gần 20% nguồn cung dầu khí của thế giới đi qua, bị tê liệt. Giá năng lượng tăng vọt, các nền kinh tế lớn bắt đầu đối mặt áp lực lạm phát và suy giảm tăng trưởng.

Bối cảnh hiện tại gợi nhớ về hai cú sốc dầu mỏ năm 1973 và năm 1979, khi xung đột địa chính trị tại Trung Đông nhanh chóng biến thành khủng hoảng năng lượng, kéo theo suy thoái kinh tế toàn cầu và làm thay đổi trật tự quyền lực trên thị trường dầu mỏ trong nhiều thập niên sau đó.

 Wikimedia Commons

Biển báo "hết xăng" tại một trạm xăng ở Lincoln City, bang Oregon mùa thu năm 1973. Ảnh: Wikimedia Commons

Năm 1948, nước Anh kết thúc sự ủy trị với vùng lãnh thổ của người Palestine, dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Israel. Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia Arab trong khu vực từ chối công nhận Israel, dẫn đến các cuộc xung đột nhỏ lẻ rồi thành chiến tranh trong những thập niên sau đó.

Đầu tháng 10/1973, Cuộc chiến Yom Kippur bùng phát khi Ai Cập và Syria tấn công Israel đúng vào ngày lễ thiêng Yom Kippur của người Do Thái. Sau khi Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí cho Ai Cập và Syria, Tổng thống Mỹ Richard Nixon cũng tiếp tế quân sự cho Israel. Để đáp trả, Tổ chức Các nước Arab Xuất khẩu Dầu mỏ (OAPEC) đã giảm sản lượng khai thác và áp lệnh cấm vận đối với các chuyến hàng dầu mỏ tới Mỹ và Hà Lan, hai nước ủng hộ chính của Israel.

Cuộc chiến Yom Kippur kết thúc cuối tháng 10 cùng năm, nhưng OAPEC vẫn duy trì các lệnh cấm vận và hạn chế sản lượng, dẫn đến một cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu.

Mỹ từng giả định các nước vùng Vịnh sẽ "gậy ông đập lưng ông" khi áp cấm vận, nhưng thực tế cho thấy Washington đã sai lầm, bởi giá dầu tăng cao đã bù đắp cho sản lượng giảm. Trong ba tháng sau khi lệnh cấm vận được công bố, giá dầu tăng từ 3 USD lên 12 USD mỗi thùng. Người Mỹ từ việc tận hưởng nguồn cung dồi dào, nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng phải đối mặt tình trạng thiếu hụt nhiên liệu, dẫn đến cảnh xếp hàng dài tại các trạm xăng.

Giới chức Mỹ lập tức triển khai các biện pháp tiết kiệm năng lượng, như yêu cầu các trạm xăng đóng cửa vào Chủ nhật. Cuộc khủng hoảng còn giáng đòn mạnh vào ngành ôtô Mỹ, khiến nước này bị Nhật Bản vượt mặt bằng những mẫu xe nhỏ gọn và tiết kiệm nhiên liệu hơn.

Tại châu Âu, giá dầu tăng đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng năng lượng còn nghiêm trọng hơn cả ở Mỹ. Hầu hết các nước công nghiệp hóa đều phụ thuộc nhiều vào dầu nhập khẩu. Ngay cả Mỹ, dù ít bị tổn thương hơn so với Tây Âu, cũng nhập khẩu tới 35% nhu cầu năng lượng của mình. Trong khi đó, OPEC chiếm nửa lượng dầu xuất khẩu của thế giới.

Các quốc gia như Anh, Đức, Thụy Sĩ, Na Uy và Đan Mạch áp dụng các hạn chế về lái xe, đi thuyền và bay. Thủ tướng Anh thậm chí còn kêu gọi người dân chỉ sưởi ấm một phòng trong nhà vào mùa đông.

Lệnh cấm vận được gỡ bỏ vào tháng 3/1974, nhưng giá dầu vẫn giữ ở mức cao, khiến hệ lụy từ cuộc khủng hoảng năng lượng kéo dài nhiều năm.

Tại Mỹ, cuộc khủng hoảng thúc đẩy các đời tổng thống sau đó coi an ninh năng lượng là một trong những ưu tiên hàng đầu. Mỹ đã thúc đẩy sản xuất dầu trong nước đồng thời giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế, như năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân.

Trong thập niên 1970, nhiều đạo luật ra đời để thay đổi cách Mỹ sử dụng năng lượng, từ Đạo luật Phân phối Dầu Khẩn cấp năm 1973 đến thành lập Bộ Năng lượng năm 1977. Một trong những biện pháp đáng chú ý là thiết lập kho dự trữ dầu chiến lược năm 1975, hiện tại có sức chứa 714 triệu thùng.

Các nền kinh tế phương Tây khác cũng dần thích nghi với giá dầu cao và áp lực lạm phát, bắt đầu nới lỏng các chính sách điều chỉnh cực đoan mà họ triển khai ngay sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973. Tuy nhiên, sự tự tin này đã biến mất khi cuộc khủng hoảng tiếp theo nổ ra tại Trung Đông.

Tháng 1/1979, quốc vương Iran Mohammad Reza Pahlavi bị lật đổ trong cuộc Cách mạng Hồi giáo, dẫn đến các cuộc biểu tình, làm gián đoạn ngành dầu mỏ, khiến thị trường toàn cầu mất đi nguồn cung 3-4 triệu thùng một ngày. Khi chính quyền mới tại Iran nối lại xuất khẩu dầu, sản lượng của Tehran không ổn định và thấp hơn trước, khiến giá dầu tăng.

Arab Saudi và các nước OPEC khác đã tăng sản lượng để bù đắp sự sụt giảm này, nhưng tổng sản lượng vẫn giảm khoảng 4%. Tuy nhiên, tâm lý hoảng loạn lan rộng đã đẩy giá dầu lên cao hơn nhiều so với mức dự đoán trong các điều kiện bình thường.

Tháng 9/1980, lãnh đạo Iraq Saddam Hussein phát động cuộc chiến với Iran, tranh thủ thời điểm nước láng giềng còn bất ổn, dẫn đến cuộc chiến kéo dài 8 năm, hoạt động sản xuất dầu của cả Baghdad và Tehran đều bị cắt giảm nghiêm trọng. Thế giới mất thêm nguồn cung khoảng 3 triệu thùng một ngày từ Iraq.

Giá dầu tăng vọt, từ 16 USD một thùng vào tháng 1/1980 lên 36 USD một thùng cuối tháng 9 cùng năm. Mức tăng 20 USD mỗi thùng này tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu. Các nước nhập khẩu dầu phương Tây nhanh chóng áp dụng các chính sách tiền tệ nghiêm ngặt để đối phó với áp lực lạm phát mới, dẫn đến cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 1980-1982.

Kinh tế các nước sụt giảm mạnh, tỷ lệ thất nghiệp tại nhiều quốc gia công nghiệp đã tăng vọt lên mức hai chữ số, cao nhất kể từ sau Thế chiến II. Tại Mỹ, tỷ lệ này vượt 10% vào năm 1982, trong khi tại Anh và các nước châu Âu, tình trạng trì trệ kéo dài khiến hàng triệu người mất việc làm.

Giá dầu bắt đầu hạ nhiệt khi các quốc gia khác tăng sản lượng để bù đắp phần thiếu hụt này. Giá dầu tiếp tục giảm đều trong 20 năm tiếp theo, ngoại trừ một đợt tăng ngắn trong thời kỳ Chiến tranh vùng Vịnh. So với năm 1980, giá dầu những năm 1990 đã giảm khoảng 60%.

"Một bài học rút ra từ những năm 1970 là mọi người phải có dự trữ khẩn cấp đề phòng cuộc khủng hoảng như hiện tại", Pavel Molchanov, nhà phân tích tại Raymond James, nói.

GASOLINE SHORTAGE HIT THE STATE OF OREGON IN THE FALL OF 1973 BY MIDDAY GASOLINE WAS BECOMING UNAVAILABLE ALONG... - NARA - 555405

Biển báo "ngừng hoạt động" tại một trạm xăng ở bang Oregon mùa thu năm 1973. Ảnh: Wikimedia Commons

Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) Fatih Birol ngày 23/3 cảnh báo cuộc khủng hoảng mà thế giới đang đối mặt thậm chí còn nghiêm trọng hơn như vậy.

IEA hôm 11/3 cho biết 32 thành viên tổ chức đã nhất trí bơm tổng cộng 400 triệu thùng dầu từ kho dự trữ ra thị trường dầu thô, tương đương 1/3 tổng số dầu trong kho dự trữ của họ để hạ nhiệt thị trường năng lượng. Đây là đợt xả kho lớn nhất của IEA, gấp hơn hai lần con số 182 triệu thùng khi chiến sự Ukraine bùng phát hồi tháng 2/2022.

Giới quan sát cảnh báo việc bơm dầu dự trữ ra thị trường chỉ là biện pháp ngắn hạn và ngay cả khi eo biển Hormuz mở cửa trở lại, giá dầu vẫn có thể neo ở mức cao.

"Hormuz liệu có mở cửa trở lại và sẽ mở trong bao lâu?", Phillip Braun, giáo sư tài chính tại Đại học Northwestern, nhận định. "Có quá nhiều bất định về diễn biến tiếp theo. Ngay cả khi eo biển trở lại bình thường, giá dầu vẫn được dự báo tăng trong ngắn hạn".

Như Tâm (Theo CNN, History, EBSCO)

Đọc toàn bộ bài viết